Giáo sư là gì?

dsc_0131

(Ảnh: GS Vũ Quang Côn, Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư ngành Sinh học)

Bắt đầu từ chuyện bổ nhiệm giáo sư của Trường ĐH Tôn Đức Thắng

Câu chuyện bắt đầu từ tháng 9/2015, khi Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TP HCM) đưa ra thông tin sẽ quyết định tự bổ nhiệm chức danh giáo sư và phó giáo sư cho những cán bộ giảng viên trong và ngoài trường có nhu cầu. Điều này là một điểm mới trong giáo dục đại học Việt Nam bởi từ trước tới nay, thủ tục bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư đều phải theo quyết định số 174 năm 2008 và quyết định 20 của Thủ tướng về sửa đổi bổ sung một số điều của “Quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư”. Theo đó, Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước do Thủ tướng quyết định thành lập theo đề nghị của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo, có trách nhiệm xét công nhận hoặc hủy bỏ công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư. Xung quanh câu chuyện này, nhiều cuộc tranh luận giữa những người quan tâm đến giáo dục đã xảy ra. Bản chất của vấn đề nằm ở quan niệm giáo sư là gì và quy trình bổ nhiệm hay phong hàm khác nhau ra sao giữa Việt Nam và các nước trên thế giới.

(Nghị định 20/2001/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam về việc quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh giáo sư và phó giáo sư)

Ở Việt Nam, trước năm 1975 từ giáo sư được gọi để chỉ các nhà giáo dạy trong các trường trung học từ lớp 6 đến lớp 12. Ở Việt Nam hiện nay, giáo sư là tên gọi một chức danh dành cho các cán bộ giảng dạy cao cấp ở các bộ môn thuộc trường đại học hoặc viện nghiên cứu, được nhà nước phong tặng vì đáp ứng đủ các tiêu chí do luật định trong các hoạt động về đào tạo và nghiên cứu khoa học. Phó giáo sư là một chức danh khoa học dành cho người nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học, sau đại học nhưng thấp hơn giáo sư. Trong khi đó, ở các nước Âu Mỹ, giáo sư không phải là một học hàm hay một chức danh khoa học mà là một chức vụ giảng dạy, thường do các trường đại học tự chọn lựa và quyết định. Ở các nước Đông Âu, Liên bang Nga và SNG, thì giáo sư là một chức vụ giảng dạy (tại một bộ môn nào đó do hội đồng chuyên ngành quyết định) hoặc chức danh khoa học (do hội đồng giáo dục và khoa học liên bang công nhận) tùy vào thời gian, thành tích giảng dạy đại học, sau đại học và công trình khoa học của các giảng viên có học vị tiến sĩ hoặc tiến sĩ khoa học.

Giáo sư ở Mỹ

Ở Mỹ do số lượng trường đại học rất lớn và tính đa dạng rất lớn về mức độ tổ chức của các trường nên danh hiệu giáo sư cũng có những khác biệt giữa các trường. Tuy nhiên, hệ thống phổ biến thường gồm các vị trí của giảng viên được bổ nhiệm theo thứ tự từ cao xuống thấp như sau:

  • Giáo sư xuất sắc (Distinguished, Endowed, University Professor)
  • Giáo sư (Full Professor)
  • Phó giáo sư (Associate Professor)
  • Giáo sư phụ tá (Assistant Professor) (thường là vị trí đầu tiên của các giảng viên có hợp đồng dài hạn)
  • Các vị trí nghiên cứu (Research Associate, Lecturer, Instructor) (thường là các vị trí có hợp đồng tạm thời)
  • Giáo sư trợ giảng/Trợ giảng/Người hướng dẫn (Adjunct Professor/Lecturer/Instructor) (thường làm việc bán thời gian)

Ngoài ra, các trường đại học Mỹ còn bổ nhiệm các vị trí khác như Giáo sư lâm sàng (Clinical Professor), Giáo sư thực hành (Professor of Practice), Giáo sư nghiên cứu (Research Professor). Hai danh hiệu đầu tiên áp dụng cho những người có hoạt động bên ngoài như thực hành y tế và không làm việc toàn thời gian cho nghiên cứu. Danh hiệu Giáo sư nghiên cứu đôi khi được trao cho những người làm việc cho một viện nghiên cứu nhưng không kết nối với một trường đại học.

Đáng chú ý rằng trong khi danh từ “Giáo sư ” (viết hoa) (kí hiệu ” P ” ) thường ngụ ý một chức danh Giáo sư, còn danh từ chung ” giáo sư ” ở Mỹ lại mô tả bất cứ ai dạy trình độ đại học, không phân biệt cấp bậc. Ngoài ra, như một tiêu đề ghi danh trong địa chỉ, nó có thể được viết hoa nhưng không hàm ý về cấp bậc hay danh hiệu. Cũng lưu ý rằng ” Giáo sư hưu trí” (Professor Emeritus) nói chung không biểu thị một danh hiệu giáo sư cụ thể nào mà chỉ đơn thuần là một giảng viên đã nghỉ hưu trong tình trạng tốt và có thể được áp dụng cho hầu hết các bậc giảng viên.

Giáo sư ở Đức

Các giảng viên được bổ nhiệm trong hệ thống giáo dục đại học Đức bao gồm các thứ bậc như sau:

  • Giáo sư (Professor, Hạng W3)
  • Giáo sư (Professor, Hạng W2) (Hạng W3 và W2 khác nhau về mức lương được trả)
  • Giảng viên đại học (Hochschuldozent) (chỉ dùng ở Bang Baden-Württemberg, được trả lương như giáo sư hạng W2, nhưng không được gọi là giáo sư, từ 2002 về trước được dùng ở các bang khác như một giảng viên đại học  hạng C2 với vài trò giảng dạy và nghiên cứu)
  • Giáo sư trẻ (Juniorprofessor) (hạng W1, không có hợp đồng dài hạn)
  • Giảng viên trẻ (Juniordozent) (chỉ ở Baden-Württemberg, tương đương hạng W1, không có hợp đồng dài hạn)
  • Người hướng dẫn/quản lý khoa học (suốt đời) (Akademischer Rat/Oberrat/Direktor auf Lebenszeit) (A13, A14, A15)
  • Nghiên cứu viên (Wissenschaftlicher Mitarbeiter) (TVöD 13/14/15, TvL 13/14/15)
  • Nghiên cứu viên/người hướng dẫn khoa học (tạm thời) (Wissenschaftlicher Mitarbeiter auf Zeit, Akademischer Rat auf Zeit) (TVöD,(TvL A13 a. Z.)
  • Nghiên cứu viên (tạm thời) (Akademischer Mitarbeiter auf Zeit) (TVöD, chỉ ở Baden-Württemberg)
  • Trợ lý khoa học (Wissenschaftliche Hilfskraft) (TdL)
  • Trợ lý sinh viên (Studentische Hilfskraft) (TdL)

Ngoài ra, còn có các vị trí không được bổ nhiệm khác như “Giảng viên ngoài” “Giảng viên thỉnh giảng” (Privatdozent) (đã phục vụ một số năm nhưng chưa được bổ nhiệm chính thức làm giáo sư) và “Giáo sư ngoại lệ” (Außerplanmäßiger Professor) (được trường đại học ở một số bang trao cho những người đạt tiêu chuẩn giáo sư theo điều 36 của Luật Đại học).

Các vị trí bổ nhiệm trong hệ thống giáo dục đại học Đức cũng được áp dụng tương tự ở Áo, vùng nói tiếng Đức của Thụy Sĩ, cũng như ở Ba Lan, Slovakia, Hungary và Slovenia. Ở Ba Lan, giáo sư là một danh hiệu học thuật cần thiết để có được vị trí của Giáo sư đầy đủ (full professor) (ordinary). Một Giáo sư xuất sắc (extraordinary) được xếp hạng thấp hơn, và không đòi hỏi danh hiệu Giáo sư. Ở một số quốc gia sử dụng tiếng Đức khác (ví dụ như Áo, Phần Lan, Thụy Điển), Giáo sư cũng là một danh hiệu cao quý mà có thể được ban cho một nghệ sĩ, học giả, vv, do Tổng thống hoặc bởi Chính phủ, hoàn toàn độc lập với bất kỳ hoạt động học thuật nào.

Giáo sư ở một số nước khác trên thế giới (ví dụ)

Algeria

Tại Algeria, thứ bậc của giảng viên các trường đại học bắt đầu là Giáo sư trợ tá “Maître assistant” với bằng thạc sĩ. Sau khi nhận bằng tiến sĩ họ trở thành Phó Giáo sư (Maître de Conferences). Tối thiểu sau 5 năm, họ có thể nhận được thứ hạng của Giáo sư.

Bangladesh

Ở Bangladesh, giảng viên ở cấp đại học được phân vào bốn bậc chính. Các cấp bậc tăng dần là Giảng viên, Giáo sư trợ tá, Phó giáo sư và Giáo sư. Vị trí Giảng viên thường là các sinh viên giỏi đầu lớp, tối thiểu có bằng thạc sĩ. Sau khi có bằng tiến sĩ, các giảng viên được bổ nhiệm lần lượt các vị trí Giáo sư trợ tá, sau đó là Phó Giáo sư và Giáo sư, tùy thuộc vào kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy. Bên cạnh đó, người ta có thể phong Giáo sư hưu trí (Professor of Emeritus) cho các giáo sư xuất sắc sau khi nghỉ hưu.

Bỉ

Có sự khác biệt trong tên gọi các vị trí của giảng viên đại học trong cộng đồng nói tiếng Hà Lan và cộng đồng nói tiếng Pháp.

Đối với cộng đồng nói tiếng Hà Lan, các thứ bậc giảm dần của giảng viên đại học là:

  • Giáo sư (Gewoon hoogleraar; full professor; Professor Ordinarius)
  • Giáo sư (Deeltijds gewoon hoogleraar; full professor, bán thời gian)
  • Giáo sư (Hoogleraar; professor)
  • Phó giáo sư (Hoofddocent; associate professor)
  • Giáo sư phụ tá (Docent; assistant professor)

Đối với cộng đồng nói tiếng Pháp, các thứ bậc giảm dần của giảng viên đại học là:

  • Giáo sư (Professeur ordinaire; full professor; Professor Ordinarius)
  • Giáo sư thỉnh giảng xuất sắc (Professeur extraordinaire; visiting full professor, bán thời gian; Professor Extraordinarius)
  • Giáo sư (hợp đồng dài hạn) (Professeur; tenured professor)
  • Giáo sư thỉnh giảng (Professeur invité; visiting professor, bán thời gian)
  • Phó giáo sư (Chargé de cours définitif; associate professor, tenured)
  • Giáo sư trợ tá (Chargé de cours temporaire; assistant professor, tenure-track)
  • Giáo sư trợ tá thỉnh giảng (Chargé de cours invité; visiting assistant professor, non-tenured)

Bảng lương của các giáo sư trên thế giới

Mọi so sánh đều khập khiễng, nhưng nhìn bảng lương (năm) của các giáo sư  ở các nước trên thế giới vào năm 2015 so với ở Việt Nam (dưới đây) chúng ta có lẽ sẽ nhận thấy nhiều điều.

Nước Giáo sư trợ tá Phó giáo sư Giáo sư
Mỹ $38,948 $44,932 $60,801
Mỹ – đại học hàng đầu $49,300 $57,142 $87,702
Anh ₤37,424 ₤46,261 ₤60,314
Anh – đại học hàng đầu ₤42,245 ₤47,495 ₤82,464
Đức €50,052 €68,472 €79,248
Pháp €22,546 €26,316 €37,118
Italia €21,678 €25,994 €37,351
Hà Lan €30,609 €37,991 €46,180
Thụy Sỹ €60,158 €69,118 €78,068
Luxembourg €20,320 €22,785 €26,391
Bỉ €29,244 €33,778 €38,509
Tây Ban Nha €17,180 €20,284 €26,573
Thụy Điển €22,257 €26,666 €31,639
Jordan €16,800 €20,400 €25,200
Algeria €6,109 €9,163 €14,181
Việt Nam >=85.560.000 VND(*) >=85.560.000 VND(*)

(*): Tính theo mức lương thấp nhất của ngạch Giảng viên cao cấp, mã số V.07.01.01, hệ số 6.2, theo thông tư hiện hành có hiệu lực từ 25/12/2015.

Phát biểu của các giáo sư về giáo sư

GS Ngô Bảo Châu, “chúng ta nên trả lại từ giáo sư về đúng nghĩa của nó, tức là một vị trí làm việc. Nhà nước cũng nên trao quyền bổ nhiệm này cho các cơ sở giáo dục bởi phù hợp với chủ trương chung là giao quyền tự chủ cho các trường đại học…tôi thấy một số người được Hội đồng giáo sư Nhà nước phong hàm nhưng lại không xứng đáng vì chức danh giáo sư gắn liền với việc nghiên cứu khoa học.” (Vnexpress)

GS Hoàng Tụy: “Trước hết, có một tiến bộ đáng ghi nhận là cách gọi học hàm GS thành chức danh GS. Thật ra, chỉ có ở nước ta và cũng chỉ từ giữa năm 80 trở đi mới coi GS là phẩm hàm để phong thưởng, chứ các nước khác, GS là chức vụ khoa học, với nội dung chức trách cụ thể, cần tuyển chọn người đủ năng lực để đảm nhiệm. Sự khác biệt không chỉ ở ngôn từ, mà ở mục đích và nội dung công việc. Do quan niệm học hàm theo kiểu phong kiến nên nhiều người chỉ có chức quyền dễ dàng được phong GS, cho dù chẳng có trình độ gì”. (Vietnamnet)

GS Nguyễn Văn Tuấn: “Giáo sư khác với thầy giáo thường ở điểm họ chẳng những giảng dạy, mà còn nghiên cứu khoa học và sản sinh ra tri thức mới. Tri thức mới không phải cho cá nhân họ, mà phải đem lại phúc lợi cho xã hội và nhân loại. Cần nói thêm rằng danh từ “giáo sư” trong tiếng Latin có nội hàm là người có thẩm quyền và chuyên gia”. (Facebook Nguyễn Tuấn)

TS Lê Vinh Danh (Hiệu trưởng Trường Đại học Tôn Đức Thắng): “Từ GS và PGS không phải là hai chữ độc quyền mà HĐCDGSNN đã giữ rồi thì các cơ sở khác không được dùng tới. Chữ “professor”, “associate professor” được sử dụng trên thế giới cả ngàn năm nay rồi, đây là từ chỉ chức danh nghề nghiệp.” (Tienphong)

This entry was posted in Giáo dục, Khoa học and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi