Hội nghị NCKH Sinh viên trường DHNT 2010

Tham luận: Tăng cường hiệu quả nghiên cứu khoa học sinh viên là một giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học

Nguyễn Văn Duy, Viện Công nghệ sinh học và Môi trường

Trong năm học 2009-2010, có 1.400 sinh viên được trao giải thưởng sáng tạo, nghiên cứu khoa học trong tổng số 1,8 triệu sinh viên đại học, cao đẳng cả nước. Vì vậy, hiện còn nhiều tranh luận chưa thống nhất khi đánh giá về chất lượng và số lượng các nghiên cứu khoa học của sinh viên hiện nay. Một số ý kiến cho rằng rất ít sinh viên hiện nay tham gia nghiên cứu khoa học, trong khi một số khác lại cho rằng chúng ta đang lạm phát các đề tài nghiên cứu của sinh viên. Một số cho rằng chất lượng nghiên cứu của sinh viên còn rất thấp trong khi có ý kiến cho rằng không nên đánh giá chất lượng đề tài khoa học của sinh viên theo các tiêu chuẩn tương tự dành cho các nhà khoa học chuyên nghiệp. Bài tham luận này mong muốn xem xét vấn đề này từ căn bản. Thực chất và mục tiêu của nghiên cứu khoa học sinh viên là gì? Từ đó đi đến đánh giá mối quan hệ gắn kết giữa nghiên cứu khoa học sinh viên với chất lượng đào tạo. Sau khi đưa ra những tồn tại trong hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên hiện nay, chúng tôi sẽ đề xuất một số giải pháp để tăng cường hiệu quả cho hoạt động này, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Đại học Nha Trang.

1. Mục tiêu của nghiên cứu khoa học sinh viên là gì?

Nghiên cứu khoa học trong sinh viên có gì khác biệt so với nghiên cứu khoa học nói chung? Mục tiêu chính của hoạt động này trong sinh viên là gì? Đây có lẽ là câu hỏi đầu tiên rất quan trọng trước khi bàn luận về chất lượng của các công trình nghiên cứu khoa học sinh viên hay tìm kiếm những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động này.

Theo Vũ Cao Đàm, nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới. Với cách đặt vấn đề này, nghiên cứu khoa học là công việc chuyên nghiệp yêu cầu có mạng lưới các nhà nghiên cứu chuyên ngành, cần có kinh phí lớn để triển khai nhằm tạo ra kết quả khoa học đạt mục tiêu đề ra và cần có các tổ chức cấp kinh phí và quản lí khoa học. Mạng lưới các nhà nghiên cứu thông thường là những người có bằng Tiến sĩ ở các chuyên ngành, cùng với các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh làm trợ lý nghiên cứu. Chủ nhiệm các đề tài khoa học không những phải có kiến thức chuyên môn mà còn cần thành thạo một loạt kỹ năng khác của một nhà nghiên cứu như viết đề tài và công trình khoa học, tổ chức nhóm và xây dựng mạng lưới nghiên cứu, quản lí kinh phí, triển khai hoạt động nghiên cứu, và trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu. Những kỹ năng này của các nhà nghiên cứu được đào tạo và tự đào tạo thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học của bản thân từ thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học, Thạc sỹ, Tiến sỹ cho đến các hoạt động nghiên cứu sau Tiến sỹ.

Rõ ràng, nghiên cứu khoa học sinh viên chỉ là bước dạo đầu tiên để khởi động con đường nghiên cứu khoa học đầy vinh quang, nhưng rất gian nan và cần chuyên nghiệp hóa. Vì vậy nếu dùng cách tiếp cận này để đặt mục tiêu và đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên đại học thì không phù hợp vì một một số lý do. Thứ nhất, mục tiêu đào tạo của bậc học này chưa phải là đào tạo ra các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Thứ hai, kinh phí tài trợ cho các đề tài khoa học sinh viên thường rất eo hẹp để có thể tạo ra được một kết quả hoàn chỉnh, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao. Thứ ba, mục tiêu chính của nghiên cứu khoa học ở bậc đại học là trang bị cho sinh viên các kiến thức, kỹ năng nghiên cứu khoa học độc lập để hỗ trợ cho hoạt động học tập, chuẩn bị việc làm sau khi tốt nghiệp hay khởi động hoạt động nghiên cứu trước khi bước lên bậc học cao hơn. Do vậy, khi tiếp cận nghiên cứu khoa học trong sinh viên, mục tiêu nên quan tâm nhiều đến hoạt động nghiên cứu hay quá trình tiến hành nghiên cứu chứ không đặt nặng vào kết quả nghiên cứu và sản phẩm cuối cùng. Hơn nữa, khi đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học trong sinh viên, chúng ta cần quan tâm đến ảnh hưởng của hoạt động nghiên cứu khoa học đến chất lượng đào tạo – mục tiêu trọng tâm, quan trọng nhất trong giáo dục đại học.

2. Gắn kết nghiên cứu khoa học sinh viên với nâng cao chất lượng đào tạo

Ngày 10/12/2010, Đảng ủy trường Đại học Nha Trang đã ra Nghị quyết số 02 NQ/ĐU “Về nâng cao chất lượng đào tạo giai đoạn 2011 – 2015“, trong đó có nhiều giải pháp được đưa ra, thể hiện quyết tâm của toàn thể Đảng viên, cán bộ viên chức, giảng viên và học sinh sinh viên nhà trường nhằm xây dựng chiến lược giáo dục có chất lượng trong giai đoạn mới. Trên thực tế, hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên không tách rời các hoạt động đào tạo của trường đại học. Nó bắt nguồn từ những việc nhỏ như sinh viên tự tìm đọc tài liệu, đọc sâu hơn về các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học, cho đến việc thực hiện các đề án môn học, luận văn tốt nghiệp hay cao hơn là các đề tài nghiên cứu độc lập. Thực tiễn cho thấy sinh viên học được rất nhiều từ việc thực hiện các đề tài khoa học sinh viên như sử dụng thư viện, internet, tìm, đọc và tổng kết tài liệu, xác định vấn đề, làm việc nhóm dưới sự hướng dẫn của thầy cô, trình bày và bảo vệ kết quả. Đây chính là những kỹ năng cơ bản của một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp cũng như của một kỹ sư, cử nhân làm việc trong thời đại tri thức hiện nay.

Đặc biệt trong các ngành khoa học thực nghiệm, sinh viên còn được rèn luyện kỹ năng thực hành cho các phương pháp nhiều khi chỉ được học lý thuyết, hay được thực hành trong thời gian và kinh phí có hạn. Thời gian chính thức làm khóa luận tốt nghiệp thường chỉ kéo dài 3 tháng là không đủ cho các ngành này. Vì thế, nghiên cứu khoa học sinh viên là một giải pháp tích cực để góp phần giúp sinh viên bổ sung kiến thức môn học, thực hành nâng cao, rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu, nâng thêm một bước chất lượng khóa luận tốt nghiệp. Hoạt động này còn góp phần động viên tinh thần học tập trên lớp, thúc đẩy động lực học sau đại học và gia tăng cơ hội việc làm sau tốt nghiệp. Rõ ràng, hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên cần được định hướng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học và coi đó là mục tiêu quan trọng nhất. Do đó, việc thúc đẩy hoạt động này có hiệu quả sẽ là một giải pháp cho chiến lược đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng của một trường đại học nghiên cứu.

3. Những khó khăn trong hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên hiện nay

Trong Nghị quyết “Về nâng cao chất lượng đào tạo giai đoạn 2011 – 2015”, Đảng ủy nhà trường đã đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo còn có những hạn chế. Những hạn chế ấy cũng chính là những rào cản cho việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên hiện nay.

Thứ nhất, về tổ chức và quản lí, hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên chưa định hướng theo mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và chưa coi đó là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng đề tài. Chính sách khuyến khích sinh viên và cán bộ hướng dẫn tham gia trong hoạt động này còn chưa đủ mạnh. Nguồn kinh phí cấp cho các đề tài còn rất hạn chế, nhất là với các ngành công nghệ cao.

Thứ hai, chưa có cơ chế tách biệt giữa nghiên cứu khoa học và thực tập của sinh viên. Ở một số Bộn môn và Phòng thí nghiệm, công tác quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên còn có những bất cập và đôi khi chưa được quan tâm đầy đủ. Quản lí quá khắt khe sẽ hạn chế thời gian và sức sáng tạo của sinh viên, nhưng quản lí quá lỏng lẻo sẽ không đảm bảo an toàn phòng thí nghiệm và quản trị thiết bị.

Thứ ba, chất lượng sinh viên đầu vào còn tương đối thấp. Một tỉ lệ không nhỏ sinh viên còn thụ động, ít chịu tìm tòi, ngại nghiên cứu tài liệu, nhất là tài liệu nước ngoài và không say mê thực hành trong phòng thí nghiệm. Trong khi đó hoạt động nghiên cứu khoa học đòi hỏi sinh viên phải chuẩn bị kiến thức sâu, kỹ năng tốt và thái độ làm việc nghiêm túc, có kỷ luật cao.

Thứ tư, đội ngũ cán bộ hướng dẫn khoa học nói chung còn hạn chế trên một số mặt: nghiệp vụ sư phạm, khả năng và kỹ năng nghiên cứu khoa học, trình độ ngoại ngữ, xây dựng nhóm và tổ chức mạng lưới nghiên cứu. Tỉ lệ nhà nghiên cứu có học vị Tiến sĩ còn thấp, thiếu nghiêm trọng chuyên gia đầu ngành, thiếu cán bộ hướng dẫn thực hành và thí nghiệm có tay nghề, chưa có đội ngũ trợ lí nghiên cứu chuyên nghiệp.

Thứ năm, cơ sở vật chất phục vụ thí nghiệm, thực hành ở một số ngành còn thiếu, chưa đồng bộ và hiện đại. Nhiều trang thiết bị đã được nhà trường quan tâm đầu tư và cải thiện đáng kể trong những năm gần đây nhưng chưa được khai thác có hiệu quả. Sinh viên không có nhiều cơ hội tiếp cận với những thiết bị công nghệ cao, đắt tiền hoặc vận hành phức tạp.

Thứ sáu, hệ thống tài liệu đã được cải thiện nhiều so với những năm trước đây nhưng nhìn chung chưa phong phú, ít cập nhật, ít có giáo trình biên dịch của nước ngoài và nhất là các tài liệu chuyên sâu phục vụ nghiên cứu.

4. Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả nghiên cứu khoa học sinh viên

Thứ nhất, việc tuyển chọn thuyết minh và đánh giá chất lượng đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên cần hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo là chính bên cạnh các tiêu chí về chất lượng nghiên cứu, bao gồm rèn luyện kỹ năng thực nghiệm, kỹ năng mềm, mở rộng kiến thức môn học, thái độ làm việc, khả năng phát hiện vấn đề thực tiễn, tiếp cận công nghệ mới, thực tập nghiên cứu…

Thứ hai, xây dựng chế độ trợ lý nghiên cứu bao gồm các sinh viên khá giỏi từ năm thứ 3, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các giảng viên trẻ. Ưu tiên hỗ trợ các chủ đề nghiên cứu theo định hướng của các nhóm nghiên cứu thế mạnh của trường. Khuyến khích sự sáng tạo của những đề tài mới nhưng cần đặt trọng tâm vào những đề tài lớn của cán bộ hướng dẫn nhằm giải quyết những khó khăn về kinh phí và thuận lợi cho hướng dẫn khoa học và quản lí nghiên cứu. Đồng thời, cần hoàn thiện chính sách khuyến khích sinh viên và cán bộ hướng dẫn tham gia trong hoạt động này.

Thứ ba, các Bộ môn và Phòng thí nghiệm cần có cơ chế quản lý vừa chặt chẽ vừa tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên, tách biệt giữa nghiên cứu khoa học và thực tập của sinh viên. Tạo cơ chế cho sinh viên tiếp cận thiết bị công nghệ cao trong nghiên cứu khoa học dưới 3 hình thức: quan sát, vận hành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cán bộ nghiên cứu và làm việc độc lập với kỹ năng thành thạo được đào tạo.

Thứ tư, tăng cường cơ sở vật chất một cách đồng bộ và hiện đại cho các phòng thí nghiệm trọng điểm của trường song song với việc chú trọng công tác bảo trì, bảo dưỡng các thiết bị hiện có. Ưu tiên cấp kinh phí cho những đề tài có vận hành những thiết bị chưa được khai thác đầy đủ.

Thứ năm, các cán bộ hướng dẫn khoa học cần được bồi dưỡng và có ý thức tự đào tạo về nghiệp vụ sư phạm, trình độ ngoại ngữ, và nhất là các kỹ năng nghiên cứu khoa học, xây dựng nhóm và tổ chức mạng lưới nghiên cứu.

Thứ sáu, thư viện và các nhóm nghiên cứu cần được bổ sung các tài liệu chuyên sâu phục vụ nghiên cứu, nhất là đăng ký, đặt mua và sử dụng trực tuyến các tạp chí khoa học quốc tế.

Nha Trang, 27.12.2010

This entry was posted in Khoa học and tagged , , , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi